Nhiều lao động nữ băn khoăn: nếu nghỉ việc trước khi sinh con thì có còn được hưởng chế độ thai sản không, và liệu có được nhận thêm trợ cấp thất nghiệp hay không? Theo quy định mới tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Luật Việc làm 2025, đây là hai chế độ độc lập. Vì vậy, người lao động hoàn toàn có thể đồng thời hưởng cả chế độ thai sản và trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng đủ điều kiện theo luật định.

Hai chế độ độc lập, không loại trừ nhau
Luật Bảo hiểm xã hội 2024 xác định, bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nghỉ hưu hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Trong khi đó, Luật Việc làm 2025 quy định bảo hiểm thất nghiệp là loại hình bảo hiểm bắt buộc nhằm hỗ trợ người lao động khi bị mất việc làm, thông qua các chính sách như trợ cấp thất nghiệp, tư vấn – giới thiệu việc làm, đào tạo nghề và hỗ trợ duy trì việc làm.
Như vậy, bảo hiểm xã hội (trong đó có chế độ thai sản) và bảo hiểm thất nghiệp có mục tiêu, nguồn quỹ và điều kiện hưởng khác nhau, không chồng chéo và cũng không loại trừ lẫn nhau. Pháp luật hiện hành không có quy định nào cấm người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì không được hưởng thai sản, hoặc ngược lại.
Điều kiện để được hưởng đồng thời
Người lao động nghỉ việc trước khi sinh con vẫn có thể hưởng chế độ thai sản nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, cụ thể là đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
Đồng thời, người lao động cũng được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 38 Luật Việc làm 2025, bao gồm: đã chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian luật định và nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp đúng hạn.
Nếu đáp ứng đồng thời hai nhóm điều kiện này, người lao động được nhận cả tiền thai sản từ quỹ bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Theo khoản 1 Điều 39 Luật Việc làm 2025, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được xác định bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu chung do Chính phủ công bố tại thời điểm cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp căn cứ vào số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Cứ đóng đủ từ 12 tháng đến 36 tháng thì được hưởng 3 tháng trợ cấp; sau đó, cứ mỗi 12 tháng đóng thêm được hưởng thêm 1 tháng, nhưng tối đa không quá 12 tháng.
Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày làm việc thứ 11 kể từ ngày người lao động nộp đủ hồ sơ theo quy định.
Một điểm đáng chú ý là trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động được cơ quan bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Điều này giúp người lao động, đặc biệt là lao động nữ chuẩn bị sinh con, tiếp tục được bảo đảm quyền lợi khám, chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế.
Luật Việc làm 2025 quy định rõ các nguyên tắc của bảo hiểm thất nghiệp, trong đó nhấn mạnh việc chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia; mức hưởng gắn với mức đóng và thời gian đóng; thủ tục đơn giản, thuận tiện; quỹ được quản lý công khai, minh bạch và được Nhà nước bảo hộ.
Những quy định này cho thấy chính sách bảo hiểm thất nghiệp ngày càng hướng tới bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động, nhất là trong những giai đoạn khó khăn như mất việc làm hoặc chuẩn bị sinh con.
Thực tế cho thấy, không ít người lao động vì thiếu thông tin đã bỏ lỡ quyền lợi chính đáng của mình. Do đó, người lao động, đặc biệt là lao động nữ, cần chủ động tìm hiểu quy định pháp luật, theo dõi quá trình đóng bảo hiểm và thực hiện đúng thủ tục để được hưởng đầy đủ các chế độ an sinh xã hội mà mình đã đóng góp.